02/04/2025
Người đăng : Nguyễn Bá TrungThông tư phụ cấp độc hại ngành y tế không chỉ là một công cụ bảo vệ sức khỏe cho các nhân viên mà còn là sự tri ân đối với những cống hiến và hy sinh của họ trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Vậy thông tư này được quy định như thế nào?
Mục lục
Trong hệ thống y tế Việt Nam, các nhân viên y tế luôn phải đối mặt với môi trường làm việc tiềm ẩn nhiều yếu tố độc hại, nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng. Để bảo vệ quyền lợi của những người lao động trong ngành y tế, Nhà nước đã ban hành các chính sách và chế độ đãi ngộ, trong đó có phụ cấp độc hại.
Phụ cấp độc hại ngành Y tế là một khoản tiền được chi trả thêm cho những người lao động công chức, việc chức theo từng tháng, quý hoặc tùy vào từng năm. Khoản phụ cấp này được chi trả nhằm bù đắp một phần nào cho người lao động về những tổn hại mà họ có khả năng gặp phải như: sức khỏe, thể chất, tinh thần hoặc khả năng lao động.
Theo thông tin từ ban tuyển sinh Trường Cao đẳng Y khoa Phạm Ngọc Thạch, những người thường xuyên làm việc trong các điều kiện nguy hiểm hoặc các môi trường độc hại, đặc biệt nguy hiểm sẽ được chi trả khoản phụ cấp này. Tương tự với ngành y tế cũng có những lĩnh vực và đối tượng khác nhau sẽ được hưởng những khoản phụ cấp độc hại khác nhau, tùy thuộc vào công việc mà họ đang đảm nhận.
Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc trực tiếp ở nơi độc hại nguy hiểm mà yếu tố độc hại nguy hiểm cao hơn bình thường chưa được tính vào hệ số lương, căn cứ theo Tiểu mục 1 Mục 2 Thông tư 07/2005/TT-BNV bao gồm:
Như vậy, mức phụ cấp độc hại sẽ được quyết định theo đúng thông tư ban hành của Bộ nội vụ về các mức phụ cấp cũng như quy định chi trả.
Theo Công văn 6608/BYT-TCCB ngày 22/8/2005, Thông tư 07/2005/TT-BNV hướng dẫn về chế phụ cấp độc hại, nguy hiểm với cán bộ, viên chức y tế như sau:
Mức |
Hệ số |
Đối tượng |
1 |
0,1 |
– Trực tiếp phục vụ bệnh nhân thận nhân tạo; – Trực tiếp chữa răng và làm hàm răng giả; – Làm việc trong buồng tối, thiếu ánh sáng và không khí như buồng rửa phim, buồng làm thị trường; – Gián tiếp phục vụ bệnh nhân tâm thần, lao, truyền nhiễm, phong. |
2 |
0,2 |
– Trực tiếp chăm sóc, điều trị bệnh nhân ung thu hở có mùi hôi thối ở các bệnh viện chuyên khoa hoặc ung thư của bệnh viện đa khoa; – Trực tiếp khám, chữa bệnh, phục vụ bệnh nhân da liễu (giang mai, lậu, sùi mào gà, trùng roi, nấm mốc, hạ cam, ghẻ); – Trực tiếp điều trị, chăm sóc bệnh nhân liệt do chấn thương cột sống, xuất huyết não, viêm màng não lao, viêm màng não mủ, viêm tủy; – Trực tiếp chăm sóc, điều trị bệnh nhân sau mổ (trong 48 giờ) thuộc ca mổ loại I, II; Bệnh nhân bỏng từ độ II trở lên và có diện tích bỏng 8% đối với trẻ em và 15% đối với người lớn; – Trực tiếp giữ giống, chủng loại vi sinh vật, ký sinh trùng trên động vật và chăn nuôi súc vật đã tiêm cấy vi trùng gây bệnh; – Trực tiếp phục vụ vệ sinh buồng bệnh và giặt quần áo cho bệnh nhân; – Sử dụng máy có dòng điện cao tần để điều trị bệnh nhân; – Thường xuyên làm công tác vệ sinh phòng dịch, chống sốt rét phải tiếp xúc với môi trường phân, nước thải, rác, hơi khí độc; – Rửa chai, lọ, dụng cụ thí nghiệm có hóa chất độc, vi sinh vật gây bệnh (phải dùng hóa chất độc để xử lý sát trùng); – Làm xét nghiệm sinh hóa, huyết học, ký sinh trùng; – Pha chế thuốc độc bảng A và thủ kho hóa chất; – Pha chế huyết thanh, văcxin trong phòng kín và hấp sấy tiệt trùng các dụng cụ, trang thiết bị. |
3 |
0,3 |
– Giải phẫu bệnh lý; – Trực tiếp làm xét nghiệm vi sinh (vi rút, vi trùng); – Chiết xuất dược liệu độc bảng A; – Thường xuyên sử dụng các hóa chất độc mạnh mà trong môi trường làm việc vượt quá tiêu chuẩn quy định như sau: – Axit Sulfuric (H2SO4) vượt quá đậm độ 0,01mg/lít không khí; + Benzol vượt quá đậm độ 0,05 mg/lít không khí; + Toluen vượt quá đậm độ 0,10 mg/lít không khí; + Xynol vượt quá đậm độ 0,10 mg/lít không khí; – Sản xuất các chất hấp phụ dùng cho phân tích sắc ký như Silicagel các ống chuẩn độ (dung dịch mẹ). |
4 |
0,4 |
– Trực tiếp điều trị, phục hồi chức năng và phục vụ bệnh nhân phong (hủi), kể cả các xét nghiệm Hansen; – Chiếu chụp, điện quang; – Mổ xác, giải phẫu pháp y và bảo quản trông nom xác; – Dùng các chất phóng xạ Radium, Cobalt để khám chữa bệnh; – Trực tiếp phục vụ bệnh nhân tâm thần ở các bệnh viện chuyên khoa và các khoa tâm thần ở các bệnh viện đa khoa (kể cả phục vụ thương binh và bệnh binh tâm thần ở các khu điều trị, điều dưỡng thương binh, bệnh binh); – Trực tiếp phục vụ bệnh nhân mắc bệnh HIV/AIDS, bệnh dại, bệnh truyền nhiễm, bệnh lao ở các bệnh viện, viện chuyên khoa, các khoa truyền nhiễm và khoa lao ở các bệnh viện đa khoa; – Thường xuyên chuyên trách làm công tác kiểm nghiệm độc chất pháp y. |
Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP thì từ ngày 01/07/2024 sẽ áp dụng mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng.
Căn cứ theo Công văn 6608/BYT-TCCB năm 2005 hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Như vậy, mức phụ cấp độc hại nguy hiểm đối với viên chức y tế gồm 4 mức: 0,1; 0,2; 0,3 và 0,4 xác định theo mức lương cơ sở tại thời điểm tính trả phụ cấp độc hại nguy hiểm.
Như vậy, so với mức phụ cấp trước đây thì từ ngày 01/07/2024 mức phụ cấp độc hại ngành y tế đã được tăng lên so với mức cũ.
Cách tính trả phụ cấp độc hại, nguy hiểm với cán bộ, viên chức y tế theo Thông tư 07/2005/TT-BNV như sau:
Thông tư về phụ cấp độc hại trong ngành y tế là một chính sách quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhân viên y tế đang làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, nhiều rủi ro về sức khỏe. Tuy nhiên, việc áp dụng và triển khai các quy định này cần sự đồng bộ và công bằng để đảm bảo mọi đối tượng đủ điều kiện được hưởng phụ cấp một cách đầy đủ và chính xác.
Đồng thời, việc cải thiện điều kiện làm việc, trang thiết bị bảo vệ cho nhân viên y tế vẫn là yếu tố cốt lõi để nâng cao chất lượng công tác y tế và giảm thiểu nguy cơ rủi ro đối với họ.